Lịch sử văn hóa

Giới thiệu di tích đình Dĩnh

15/09/2025 14:32

Đình Dĩnh thuộc xã Ngọc Thiện, tỉnh Bác Ninh. Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Ngọc là xã Ngọc Cụ, tổng Vân Cầu, huyện Yên Thế. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 là xã Hồng Kiều, huyện Yên Thế. Ngày 20 tháng 10 năm 1954 gọi là xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên. Sau sáp nhập Đình Dĩnh nay thuộc xã Ngọc Thiện.

Đình Dĩnh nằm liền kề UBND xã Việt Ngọc cũ, cạnh đường tỉnh lộ 295 nên rất thuận lợi cho khách tới đây để tham quan, nghiên cứu, học tập.
Đình Dĩnh xưa gồm toà tiền đình 3 gian, 2 chái và hậu cung 3 gian được gắn kết với nhau tạo thành bố cục kiểu chữ đinh(J). Hai bên sân đình có hai dãy dải vũ, mỗi dãy 3 gian, phía trước cótoà phương đình, có tường xây bao quanh. Bái đường có các vì mái kết cấu thượng con chồng trụ giá chiêng hạ cốn, 6 hàng chân cột, sàn đã bị dỡ. Trên các đầu dư, các cốn con chồng đều chạm nổi  kênh bong, đề tài tứ linh, tứ quý rất sinh động. Ở các đầu kẻ trang trí rồng mây, long hoá.
Đình Dĩnh, nay thuộc thôn Dĩnh, toạ lạc trên một khu đất rộng, liền kề với UBND xã. Đình được xây dựng theo hướng Nam, xung quanh bóng cây toả mát bốn mùa. Đình có vị trí như sau: Phía Đông giáp khu dân cư. Phía Tây giáp UBND xã Việt Ngọc cũ. Phía nam giáp đường tỉnh lộ 295. Phía Bắc giáp khu dân cư.
Khi vào đình Dĩnh, ta bước lên sân gạch rồi bước qua 7 bậc thềm vào nghi môn đình. Toà phương đình của đình Dĩnh hiện nay còn khá nguyên vẹn, lợp ngói mũi, chồng diêm 8 mái. 4 mái dưới, 4 mái trên. Toà phương đình có kích thước chiều dài: 10,2m; rộng 6,5m; cao 5,6m. Nghi môn ở vì giữa có kết cấu kiểu giá chiêng, còn 2 vì hai bên có kết cấu theo kiểu độc trụ, cánh báng. Toà nghi môn được xây dựng với 4 hàng chân cột tương ứng với 16 cột gỗ lim. Các đầu dư cột cái đều được chạm khắc hình đầu rồng chân đạp vào cột, đầu vươn ra, bờm vuốt ngược tạo dáng chắc khoẻ. Ở vì chính giữ chạm hình mặt hổ phù, mũi to, bờm dựng, mắt lồi. Ở các bức ván mê của gian giữa được người nghệ nhân chạm khắc hình các con vật linh thiêng như: long, ly, quy, phượng. Song ở đây, người nghệ nhân lấy rồng làm chủ thể. Rồng ở đây được chạm khắc nổi hẳn lên, nổi bật hơn các con vật khác. Rồng trông rất dữ :bờm vuốt ngược lên, râu mép cong dài về phía sau, mắt lồi. Đó là rồng thời Nguyễn. Ớ các đầu bẩy của toà phương đình được chạm nổi đề tài tứ quý: tùng, cúc, mai, đào cùng cuốn thư và chữ thọ. ở hai bên vì nách để tạo ra 2 chái và góc đao, người nghệ nhân xưa đã tạo ra khoảng trống bằng cách gắn hai cột gỗ chạy từ khoảng trống giữa gian trái đi qua hai cột quân xuống phía dưới tường. Đó gọi là kẻ moi, làm cho toà phương đình thêm phần thoáng đãng, dễ nhìn mà không mất đi vẻ linh thiêng, tranh trọng của toà phương đình.
Về phần mái của toà phương đình gồm có 8 mái; 4 mái phía trên; 4 mái
phía dưới. Tất cả 8 góc mái đều được đắp nổi hình lá đề uốn cong tạo ra phần đao cho phương đình. Trên đỉnh mái đắp nổi hình "lưỡng long chầu nguyệt", 4 góc bờ xối mái trên là hình 4 con nghê đang trườn, còn bốn góc mái phía dưới ở gần đầu đao được đắp nổi hình 4 con nghê đang chầu.

Qua toà phương đình, tiếp vào bên trong ta đi qua một sân gạch, vào toà đại đình, với hai bên là hai cây đại và cây vải toả bóng mát. Trước cửa đình là bức hoành phi nghi dòng chữ Hán:" Dĩnh cung đình" tức là cung đình Dĩnh. Phía sau đình là vườn cây bạch đàn, xa xa nữa là ngọn núi Đót thuộc xã Phúc Sơn. Bên phải đình là UBND xã, bên trái đình là khu dân. Toà đại đình Dĩnh hiện nay gồm 5 gian, 2 chái, với kết cấu vì kèo theo kiểu giá chiêng, tiền kẻ, hậu bẩy. Đình gồm 4 vì kèo với 8 cột chính, nền lát gạch vuông đỏ, mái lợp ngói mũi. Hai bên cửa có hình chữ "Thọ" để tạo ô thoáng cho ngôi đình, hệ thống cửa bức bàn bằng gỗ bạch đàn. Kết cấu vì kèo ở đình Dĩnh được trang trí bằng các hình tượng mặt hổ phù. Vì nách của đình được chạm khắc hình : long, quy, mây tụ. ở gian chính giữa để tạo ra nơi thờ thánh, ở đây người ta đã nối 2 cột cái với hai cột quân ở phía sau bằng cách dùng hệ thống ván bằng, xà ngang, xà dọc nối với nhau tạo ra ban thờ cao:195cm, dài: 290 cm, rộng : 225cm. Tại nơi đây là chỗ đặt ngai thờ, bài vị, cùng hai linh vị, giá đọc văn tế và một số đồ thờ khác.

Phần mái của đình Dĩnh gồm 4 mái: 2 mái chính, hai mái phụ, với đao cong mái lượn. Ở phía trên đỉnh nóc đắp nổi hình "lưỡng long chầu nguyệt". Bốn góc mái được đắp nổi 4 con vật linh thiêng biến thể: long, ly, quy, phượng làm tăng thêm vẻ uy nghiêm, trang trọng cho ngôi đình. Theo bài vị khắc chữ Hán ở đình Dĩnh, đây là nơi thờ đức Quý Minh đại vương và Đức thánh Tam Giang,
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đình Dĩnh là nơi sinh hoạt củ

a quân và dân ta. Năm 1943-1944, đình Dĩnh là địa điểm để bà Hà Thị Quế và ông Nguyễn Trọng Tỉnh về hoạt động cách mạng. Năm 1947, đình là lớp học tập của trường Ngô Sỹ Liên tỉnh Bắc Giang và Trường Hàn Thuyên (Bắc Ninh). Giai đoạn 1954- 1958, trụ sở làm việc của UBND xã đặt tại đình. Những năm 1965- 1966, đình Dĩnh là kho chứa lương thực, thực phẩm của xã để phục vụ kháng chiến. Tuy nhiên, do sự thay đổi của thời gian và sự tàn phá của chiến tranh nên đình Dĩnh xưa không còn nguyên vẹn. Nay chỉ còn lại toà phương đình. Toà đại đình được nhân dân địa phương khôi phục lại trên nền đình cũ gồm 3 gian, 2 chái, 2 dĩ. Ban đầu toà đại đình được xây dựng sát với toà phương đình song đến năm 1981, toà đại đình được di chuyển lùi về phía sau khoảng 3m. Năm 2001, đình lại chuyển một lần nữa về phía sau cách đình cũ khoảng 10 m như ngày nay.
Trải qua biết bao sự thăng trầm của lịch sử và sự biến đổi của thiên nhiên, đình Dĩnh tuy không còn nguyên vẹn như xưa song đây cũng là ý thứ gìn giữ một di sản văn hoá vật thể của địa phương, góp phần làm phong phú di sản văn hoá của Bắc Giang cũng như của dân tộc Việt Nam. Hiện nay, đình Dĩnh còn lưu giữ được một số đồ thờ quý, có giá trị như: ngai thờ, bài vị, giá đọc văn tế, linh vị, chiêng, trống...Hàng năm, vào ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch và ngày 10 tháng 9 âm lịch, dân làng tổ chức hội lệ, sinh hoạt diễn các trò chơi mang đậm tính dân gian như: chọi gà, cờ, hát tuồng...

Trong đình còn lưu giữ sắc phong, nội dung như sau: Phiên âm: "Bắc Giang tỉnh, Yên Thế phủ, Ngọc Cụ xã, tòng tiền phụ sự, nguyên tặng: Hiệu linh tôn đĩnh, hùng lược trác vĩ, dực bảo trung hưng, Cao Sơn thượng đẳng thần. Thanh lãng cao diệu, Địch cát khác tĩnh, dực bảo trung hưng Quý Minh thượng đẳng thần. Nhuận trạc hoằng phù, Bác lợi trừng khâm dực bảo trung hưng Tam Giang tôn thần. Hộ quốc tý dân, nẫm trứ linh ứng, tiết ban cấp sắc phong. Chuẩn kỳ phụng sự. Tứ kim chính trực trẫm tứ tuần, đại khánh tiết kinh ban bảo chiếu đàm ân lễ, long đăng trật: Cao Sơn thượng đẳng thần; Quý Minh thượng đẳng thần; Đặc chuẩn y cựu phụng sự Tam Giang tôn thần, trứ gia tặng: Uông nhuận trung đẳng thần, đặc chuẩn phụng sự dụng chí quốc khánh nhi thần tự điển, khâm tai. Khải Định cửu niên, thất nguyệt, nhị thập tứ nhật."

Dịch nghĩa:

Sắc cho xã Ngọc Cụ, phủ Yên Thế, tỉnh Bắc Giang cứ theo như trước phụng thờ. Nguyên được phong tặng là bậc : Hiệu linh đôn tĩnh hùng lược trác vĩ, dực bảo trung hưng Cao Sơn thượng đẳng thần. Thanh lãng cao diệu, Địch cát khác tính, dực bảo trung hưng Quý Minh thượng đẳng thần. Nhuận trạch hoằng phù, Bác lợi trừng khám dực bảo trung hưng Tam Giang tôn thần có công giúp nước, che chở cho dân, vô cùng linh ứng, đã từng được ban tặng sắc phong. Chuẩn cho địa phương phụng thờ. Đến nay, nhân dịp nhà vua tròn 40 tuổi có tổ chức đại lễ mừng tạo, ban ra bảo chiếu tỏ rõ ân lẽ của nhà vua, tăng thêm phẩm cáp cho các vị thần: Cao Sơn thượng đẳng thần, Quý Minh thượng đẳng thần; Đặc chuẩn cho địa phương cứ theo như cũ phụng thờ: Tam Giang tôn thần, gia tặng: Uông nhuận trung đẳng thần. Chuẩn cho địa phương phụng thờ thần vào những dịp lễ lớn, mừng vui đất nước. Hãy tuân theo sắc chỉ này.

Ngày 24 tháng 7 năm Khải Định thứ 9(1924).

Di tích đã được xếp hạng.

Châu Giang